Chỉ thiếu một tiếng sấm ngày xuân, đất nước Trung Hoa ngủ vùi hơn nửa thế kỷ này nên tỉnh giấc rồi.
Cuối đông năm Dân Quốc thứ hai mươi mốt, Lục Kiếm Lâm từ Quảng Châu đến Bắc Bình.
Ngày hôm ấy gió gắt gỏng hơn thường lệ, hoàng hôn đến sớm, tòa thành cổ phương Bắc đón trận tuyết đầu mùa kể từ khi vào đông. Thỉnh thoảng có vài nữ sinh đại học bước ra, quấn chặt áo bông bước đi vội vã, ngẩng đầu thoáng thấy một thanh niên tuấn tú khoác chiếc măng-tô quân đội kiểu Mỹ ngoài cổng trường thì bỗng khựng lại ngẩn ngơ. Sau đó họ sẽ lại tình tứ nhìn hắn thêm một lần, nếu không phải trận tuyết bay đầy trời này thúc giục gấp gáp, e là đuổi cũng không đi.
Lục Kiếm Lâm đợi em gái Lục Trí Vân ngoài cổng trường, hắn đứng thẳng lưng, sắc mặt lạnh nhạt, chỉ khẽ chau đôi mày kiếm như đang suy tư.
Chuyến này Lục Kiếm Lâm đi thay cha vào kinh, ngoài mặt là đưa em gái Lục Trí Vân tìm thầy học vẽ, thực chất là để liên lạc với thủ lĩnh quân Tây Bắc là Triệu Hữu Xương nhằm phản Tưởng kháng Nhật. Giây phút rời khỏi Quảng Châu, Lục Kiếm Lâm đã hiểu rõ chuyến đi này trùng trùng nguy hiểm, hắn là giáo quan quân sự trẻ tuổi nhất của trường quân sự Hoàng Phố, lại nhậm chức Tham mưu trưởng Quân đoàn 2 quân Quảng Đông, bị vây quanh bởi đặc vụ Nhật ngụy và Trung Thống*, biết bao đôi mắt lom lom rình rập ngó nhìn. Nghĩ rằng càng thận trọng kín tiếng lại càng dễ bị người ta nghi kỵ, thế là hắn dứt khoát mặc quân phục, đi ủng quân đội và đeo găng tay, lại tuyển vài tên tay sai xách rương đeo túi, hùng hổ tụ thành đoàn mà đi.
*Nhật ngụy bao gồm quân Nhật và các chính quyền và lực lượng vũ trang Hán gian bù nhìn do Nhật Bản lập ra ở Trung Quốc trong Thế chiến II. Trung Thống là viết tắt cho Cục Điều tra và Thống kê (thường gọi là Cục Thống kê Điều tra hay BIS), thành lập năm 1930, là cơ quan tình báo, an ninh và phản gián chủ chốt của Quốc dân đảng Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch. Đơn vị này hoạt động bí mật, do thám phe Cộng sản, giám sát chính trị và đàn áp các hoạt động chống đối.
Mãi đến khi gặp em gái, ý cười mới thoáng hiện lên trong đôi mắt lạnh lùng sâu thẳm của Lục Kiếm Lâm.
“Anh, em vừa gặp được thầy Trần Văn Xuyên, thầy khen em có năng khiếu hội họa, khuyến khích em ra nước ngoài học chuyên sâu tiếp.” Hai anh em này đều rất đẹp, từ nhỏ đã thân nhau, Lục Trí Vân thấy tuyết vương trên vai anh trai thì vội nhón chân phủi giúp anh.
“Cũng tốt. Thế cục trong nước đa đoan, ra nước ngoài là một cách hay để tránh xa tranh chấp.” Lục Kiếm Lâm gật đầu, hắn mỉm cười nói, “Chỉ sợ cha không nỡ.”
“Về em sẽ nói với cha, không sợ ông không đồng ý! Đúng rồi anh, chúng ta đến cũng vừa khéo, tối nay có vở “Du Viên Kinh Mộng” mà thầy Trần Văn Xuyên tình cờ lại có dư hai vé, đúng là để chờ anh và em đi rồi.”
Chỉ nghe tên vở diễn “Du Viên Kinh Mộng”, Lục Kiếm Lâm đã thầm nhíu mày, không phải là hắn không hiểu nét hoa lệ lãng mạn của “Mẫu Đơn Đình*”, chỉ thầm than đào hát chẳng quan tâm mối hận mất nước, bên ngoài khói lửa ngút trời, vậy mà vẫn có kẻ chưa tỉnh khỏi giấc mộng hoàng lương* ấy.
*Mẫu đơn đình là vở hí kịch nổi tiếng bậc nhất lịch sử Trung Quốc, do nhà soạn kịch vĩ đại thời Minh Thang Hiển Tổ sáng tác năm 1598.Du viên kinh mộng là tên hai cảnh nổi tiếng nhất (hoặc thường được gộp gọi chung) trong vở Mẫu đơn đình. Du viên là Du ngoạn vườn hoa (cảnh Đỗ Lệ Nương và nha hoàn Xuân Hương dạo chơi hậu viên, ngắm hoa xuân, than thở “xuân sắc đẹp đẽ mà phí hoài”); Kinh mộng là Giật mình trong mộng (cảnh nàng ngủ thiếp trong Mẫu đơn đình và mơ thấy Liễu Mộng Mai, hai người gặp gỡ, yêu đương say đắm trong mộng, rồi tỉnh giấc tương tư).
*Điển tích trong “Chẩm Trung Ký” thời Đường kể về một chàng trai gặp một đạo sĩ trong một quán trọ. Đạo sĩ cho chàng trai một chiếc gối bảo ngủ đi. Bấy giờ chủ quán đang nấu một nồi cơm kê vàng, chàng trai nằm mộng thấy mình được làm quan, hưởng phú quý, nhưng khi tỉnh dậy, cơm kê vàng vẫn chưa chín, sau ví với sự vỡ mộng.
Anh em có thần giao cách cảm, Lục Trí Vân thấy anh trai lộ vẻ không vui thì vội nói: “Dù cho Lê Đông Thanh trên sân khấu kia có phải là “Đán số một thiên hạ*” hay không, nếu anh không muốn nghe hí thì em cũng không đi nữa!” Cô nàng nói vậy nhưng đôi mắt như hạt hạnh đào vẫn tràn đầy mong đợi, trông tội nghiệp vô cùng.
*Vai Đán trong Kinh kịch là thuật ngữ chỉ các vai diễn nữ giới, bao gồm nhiều loại hình phân hóa theo độ tuổi, tính cách và kỹ thuật biểu diễn. Các vai chính gồm Thanh Y (đoan trang), Hoa Đán (hoạt bát), Võ Đán (giỏi võ), Lão Đán (cao tuổi), và Đao Mã Đán (nữ tướng).
Lục Kiếm Lâm khẽ nhướng mày: “Em vừa nói vở “Du Viên Kinh Mộng” này do Lê Đông Thanh diễn?”
“Anh, anh cũng biết Lê Đông Thanh à?” Mắt Lục Trí Vân sáng lên, cô nàng nghiêng đầu dựa vào vai Lục Kiếm Lâm, chỉ thiếu nước lăn lộn nũng nịu như hồi nhỏ, “Đám mê kịch phát điên cả rồi, kịch của ông chủ Lê xưa nay một vé khó cầu, mà ai bảo anh trai em là tham mưu trưởng Lục danh tiếng lẫy lừng, một Lê Đông Thanh nhỏ bé sao lọt được vào mắt xanh của anh ấy chứ?!”
“Được rồi.” Lục Kiếm Lâm khẽ gật đầu, hắn cười nói: “Tham mưu trưởng Lục không có danh tiếng lẫy lừng bằng ông chủ Lê đâu, kịch của người khác không nghe cũng được, vở “Du Viên Kinh Mộng” này thì nhất định phải đi ủng hộ rồi.” Hắn nói xong thì lập tức tháo đôi găng trắng, bao bọc đôi bàn tay đã lạnh cứng của Lục Trí Vân vào giữa hai lòng bàn tay mình.
Cảm giác ấm áp truyền thẳng từ mu bàn tay vào trong lòng, Lục Trí Vân “ái chà” một tiếng, thầm nghĩ dù Đỗ Lệ Nương trên sân khấu có hoàn hồn trở lại, cô nàng cũng không nhường người anh trai tốt thế này cho ai khác đâu. Nguồn copy từ TruyenLau.com
Hết chương 1.
Dựa sấm ngày xuân
Cài đặt
Kích thước chữ
Kiểu chữ
Chiều cao dòng
Xem trước
Đây là bản xem trước trải nghiệm đọc của bạn. Điều chỉnh các cài đặt ở trên.