Ôm lấy trọng lực

Cài đặt

Kích thước chữ

Kiểu chữ

Chiều cao dòng

Xem trước

Đây là bản xem trước trải nghiệm đọc của bạn. Điều chỉnh các cài đặt ở trên.

Ôm lấy trọng lực

Tác giả : Larivegauche

[EG] CHƯƠNG 4: THU DÂY

British Columbia.
1
Sau cơn bão tuyết,
Whistler–Blackcomb
2
mịt mù trong sương.
Độ cao đóng băng
3
hạ xuống còn khoảng 3300
feet
, tuyết dày đến nửa đầu gối, dày mà mềm. Ở
ngoài đường trượt chính
5
của Blackcomb, mặt trời vẫn chưa xua nổi sương dày, tầm nhìn rất kém. Ngoại trừ việc đó ra thì thực hiện trượt trên
tuyết bột
6
ở
khu vực ngoài đường chính
cũng rất tuyệt vời rồi.
Nguồn copy từ TruyenLau.com *3300 feet = 1055.84 mét
Hai bóng người mặc đồ trượt tuyết sặc sỡ đang chậm rãi đi lên chỗ cao, chẳng mấy chốc tới tận đỉnh cao sườn núi này.
“Cứ ở đây đi. Leo nữa… thì phía trên cũng chẳng thú vị hơn, rủi ro lại càng lớn.” Trì Vũ vừa nói vừa tháo ván tách.
Ván tách đúng như tên gọi của nó, chính là một tấm ván đơn có thể tách ra hai nửa để thành ván đôi. Khi trượt tuyết ngoài đường chính thì dùng như ván đôi cho đỡ tốn sức, lên đỉnh núi lại khóa chốt, ghép thành ván đơn truyền thống để tận hưởng lực nổi của tuyết bột.
“Cậu định đổ dốc từ đây à?” Bạn đồng hành của cậu là một người bạn tốt từ trại huấn luyện thiếu niên trước đây, một anh chàng Canada lớn lên ở miền Đông. Hai người đã thức dậy lúc bốn giờ sáng, vác đồ, lái xe vào núi. TruyenLau.com
“Ừ, tớ đang luyện đúng cái này.” Trì Vũ rất dứt khoát, lách cách ghép ván lại vào nhau. Gió buổi sớm rít mạnh, nghe không rõ lắm, cậu giơ tay làm động tác, ra hiệu “đi tiếp”.
Ngay chỗ bìa rừng dốc đổ rất gắt, chừng 45 độ, cảm giác chẳng khác gì lao khỏi vách. Trì Vũ chỉ nghiêng người một cái là ném luôn trọng tâm xuống, chiếc ván bám sát trọng tâm mà lao đi. Biết sẽ chơi địa hình kiểu này nên hôm nay cậu chọn ván không quá dài, ưu tiên độ linh hoạt. Vừa đặt trọng tâm xuống là xoay người thật nhanh, nối liền những cú
S-turn
7
nhỏ, cạnh ván ép cực sát, cả người như chiếc lò xo, liên tục dồn rồi nhả áp lực. Website TruyenLau.com
Trượt tuyết tự do cũng chia làm nhiều loại. Trì Vũ từng chơi qua các dạng
địa hình nhân tạo
8
,
Big Air
9
lẫn
Slopestyle
10
. Mười bảy tuổi còn bùng nổ giành chức Vô địch ở hạng mục
Big Air
của X Games. Nhưng sau này cậu chọn lối trượt
tuyết hoang trên núi lớn
11
, quanh năm lặn ngụp ở các
ski-resort
12
ở Bắc Mỹ để săn tuyết bột sâu, nhảy khỏi những mép vách ở vùng trượt ngoài đường chính chưa ai khai phá. Người ta bảo núi lớn là bến cuối của dân trượt tuyết quả là không sai. So với thử thách hạn chế thì cậu càng đam mê những biến hóa khôn lường hơn.
Giống như khu vực trước mắt này vậy. Trong rừng, khoảng trống để mắc lỗi gần như không có. Chỉ cần sơ suất một chút, rẽ sớm hay muộn, rộng hay hẹp một chút thôi thì kết quả đều là đâm đầu vào cây. Còn trên sườn dốc trong rừng thì lại phải thêm chữ càng vào trước, càng nguy hiểm hơn. Nhưng trong mắt Trì Vũ một khi đã gắn ván vào chân, cài chặt khóa bộ cố định thì cậu đã ra quyết định xong rồi. Cậu không thích chừa lại đường lui cho chính mình.
Môi trường càng hiểm trở càng đòi hỏi thể chất lẫn tâm lý cao hơn, cũng càng rèn luyện hiệu quả. Cậu đâu có điều kiện ngày nào cũng ngồi trực thăng săn tuyết bột tự nhiên, phần đường trượt ngoài đường chính quanh các khu trượt tuyết là bãi tập tốt nhất mà đôi chân cậu tự đi tới được.
Có Trì Vũ mở đường phía trước, để lại sẵn rãnh sâu, người đi sau cứ như trượt trên một làn đơn, đỡ khâu chọn đường trượt nên đổ dốc rất trơn tru.
Đoạn dưới thoai thoải hơn nhiều, hai người mỗi người một cung đường, giữ đội hình trước, sau lao nhanh như vút, gió quạt vù vù trong rừng. Hết lượt trượt phần tuyết bột trong rừng xong, toàn thân như giãn ra khoan khoái. Nhưng khi sắp chạm chân dốc thì Trì Vũ bất ngờ rà thắng gấp trước một gốc cây.
“Đợi đã!”
“Sao thế?” Người đi cùng cũng lập tức phanh ván.
Ánh mắt Trì Vũ bắt được một vệt đỏ. Không giống thú nhỏ trên tuyết, đâu con nào màu sắc rực rỡ thế, cũng chẳng phải trang bị ai đánh rơi, mà là…
Màu đỏ đặc trưng ở đáy ván Korua.
“Có người bị vùi dưới tuyết! Nhanh, phụ tớ một tay!”
“Anh ơi, anh ổn chứ? Nói gì đi!” Vừa mới có tuyết rơi xong nên đi trượt ngoài đường chính cấp độ này cậu luôn mang
bộ ba an toàn tuyết lở
13
, trong đó có xẻng gấp.
Trì Vũ nhanh tay tháo khóa cố định, lật ván đặt cao, lấy balô, lắp xẻng trong chớp mắt rồi bắt đầu đào.
Người kia bị chôn chúi xuống đất đầu, chỉ còn ván trượt lộ ra ngoài. Hai chân cứ quẫy quẫy, rõ ràng tự mình không thoát nổi. Đúng kiểu “
hố cây
14
”, tuyết nén tạo hốc sâu quanh gốc, tuyết mới phủ xuống là miệng hốc bị lấp, từ ngoài rất khó ước lượng độ sâu.
Hai người đào hết sức chừng hai ba phút, rốt cuộc cũng lôi được người bị mắc kẹt ra khỏi hố cây.
“Anh không sao chứ?” Trì Vũ hỏi lớn, bước tới gỡ kính trượt tuyết để xem tình trạng.
Người kia bị ngạt đến khó chịu, hai má đỏ bừng, cố hít mấy hơi rồi mới nói không sao. Loạng choạng một lúc, hắn mới gọi đúng tên cậu: “Trì Vũ, huấn luyện viên Trì, là cậu à? Hay tôi hoa mắt?”
Trì Vũ nhìn kỹ, cũng sững người: “Trương Thần Kiêu?”
Nếu nói đến dân có tiền ngày ngày đi trực thăng trượt tuyết, thì người tên Trương Thần Kiêu đang đứng trước mặt đây chắc chắn ở vị trí thứ nhất. Gần ba mươi tuổi, đam mê trượt tuyết, ban ngày chẳng phải đi làm, ngày nào cũng lên núi. Kiểu người này Trì Vũ gặp quá nhiều rồi. Hắn ta dùng chiếc ván trượt tuyết bột đắt nhất của
Korua
, lúc được kéo khỏi hố cây trên mũ bảo hiểm hắn còn gắn cả
GoPro
.
15
Trong đám con cháu nhà giàu thì Trương Thần Kiêu thực ra trượt cũng khá tốt. Mùa xuân năm ngoái còn theo học Trì Vũ hai buổi. Trì Vũ đoán mình mắng mạnh mồm quá nên sau đó hắn không tìm cậu nữa.
Sau khi hồi sức lại Trương Thần Kiêu bảo mình không sao nhưng vẫn bị Trì Vũ dắt tay trượt thẳng xuống chân núi kiểm tra.
“Một mình đi trượt vùng ngoài đường chính nguy hiểm lắm.
Bộ ba an toàn tuyết lở
anh cũng không mang, tuyết mới dày thế này, lại còn không quen đường tuyết. Vì quay video mà đến mạng sống anh cũng không cần luôn đúng không…” Trì Vũ suốt dọc đường giáo dục lại về tuyết lở bằng tiếng Trung cho Trương Thần Kiêu.
Khi hai người leo lại lên đỉnh thì khu vực ngoài đường chính này đã có khá nhiều người ra vào, rừng không còn có dáng vẻ như trước nữa, cũng có hơi tiếc.
“Nhưng cứu được một mạng người thì cũng coi như buổi sáng đẹp trời rồi.” Người bạn bên cạnh lạc quan nói.
Trì Vũ vừa mới nói hết sạch những gì muốn nói trong ngày rồi, về sau người bên cạnh nói gì cậu cũng chỉ “ừ” một tiếng.
“Đây là khu rừng tuyết hoang vui nhất tớ từng trượt.” Người bạn kia vẫn hỏi ý cậu, “Cũng là top 1 của cậu chứ?”
Trì Vũ ngẩn ra một lúc mới đáp: “Cũng rất tốt, nhưng không phải tốt nhất.”
Người kia ngạc nhiên, “Ở đâu mà cao hơn, thoáng hơn chỗ này, lại còn…” Nói đoạn đầu óc chợt chuyển hướng rồi đoán ra, “Là
Revelstoke
16
phải không. Với người bạn khi ấy của cậu.”
Trì Vũ lại “ừ” thêm tiếng nữa.
Vài năm trước cậu đã trải qua một mùa tuyết dài ở gần Calgary. Bản thân Revelstoke không có núi cao hơn hay thoáng hơn nơi này. Nhưng đó là tuyến trượt ngoài đường chính Lương Tập Xuyên thích nhất. Bởi vì nó nằm giữa hai đường chính nên y đã đặt tên là rừng cây “đi tắt”.
Lương Tập Xuyên làm con ngoan trò giỏi cả đời, chỉ khi xa rời vòng tay cha mẹ, chạy đến khu trượt tuyết thì y mới dám đi tắt đôi chút.
Xét đến cùng, trượt tuyết cũng chỉ là môn thể thao của con người. Người ta không chiến thắng bằng những con số, mà bằng khoảnh khắc đổ nghiêng theo cú dốc ấy. Trì Vũ cảm thấy rằng khi ấy thế giới của cậu thật đơn giản biết bao. Tà dương phủ xuống cánh rừng, cậu và người ở bên trượt nối đuôi nhau khắp khu rừng nhỏ ở ngoài đường chính, bỏ lại tất thảy mọi thứ không liên quan phía sau. Về sau cậu trượt giỏi hơn, ván tách đời mới nhẹ và nổi tốt hơn, nhưng mảnh rừng phủ đầy tuyết bột ấy đã mãi mãi mất đi rồi.
Giống như người đã ở bên cậu khi ấy vậy.
⋆。˚❆˚ 。⋆
Mật Vân, Bắc Kinh, thác băng Thiên Tiên.
“Vị trí máy của tôi có thể thấp hơn, các anh
định tuyến
17
cứ kệ tôi. Dây tôi đủ dài.” Lương Mục Dã cầm bộ đàm gọi xuống: “Máy số một hạ xuống thêm chút nữa, để ý khung hình.”
Đến nơi anh mới biết mình là phương án dự phòng cho một nhiếp ảnh gia tên Triệu Nham. Hai năm nay Triệu Nham nổi như cồn trong giới nhiếp ảnh ngoại cảnh thương mại, giải to giải nhỏ đều ôm vào người không ít. Dù Lương Mục Dã chỉ là dự phòng, nhưng nếu chỉ nói về kinh nghiệm leo núi thì số lần anh đã leo còn nhiều hơn số bữa cơm mà Triệu Nham từng ăn.
Bởi vì công việc hôm nay là quay chụp toàn cảnh, kế hoạch ban đầu của Triệu Nham là dựng
tripod
18
, dùng ống kính
tilt-shift
19
có
tiêu cự dài
20
chụp từ mặt đất hướng lên trên. Kế hoạch chụp hình ban đầu cũng đã viết đủ lên giấy, trợ lý đi theo cũng có mặt, thậm chí thiết bị đều đầy đủ cả, chỉ còn thiếu mỗi bước thực hiện.
Lương Mục Dã cuối cùng cũng đến, nhận lấy tờ kế hoạch mà trợ lý đưa anh rồi, xem được vài phút thì ngay lập tức vo tròn lại và ném thẳng vào túi rác tái chế.
Trợ lý của Triệu Nham và Tổng giám đống phụ trách liên lạc là sếp Trịnh nhìn nhau đầy chán ngán.
Lương Mục Dã nói: “Tôi leo lên được, sao lại không lên mà chụp?”
“Với trang thiết bị của chúng ta thì…” Ông sếp Trịnh Thành Lĩnh vốn cũng đam mê leo trèo. Nghe vậy lập tức mở thùng xe bán tải, bắt đầu kiểm đồ.
Lương Mục Dã bước theo: “Có
dây tĩnh
21
chứ?”
“Có khoảng 80 mét.”
“
Dây chống thấm
22
à?”
“Đương nhiên rồi.”
“Thế là đủ. Thác băng chỉ có 115 mét. Tôi leo lên trước, thả dây từ trên xuống.
Thiết bị kẹp dây
23
đâu?” Anh quyết định vào phút chót, nhưng dữ liệu của thác Thiên Tiên với anh mà nói thì chắc cả đời khó quên.
“Chỉ có
loại tay cầm thôi
24
thôi, không thấy
kẹp dây đeo ngực
25
đâu.
Đai ngồi
26
còn một cái nhưng cũng chỉ còn một bên quai chân thôi.” Tổng giám đốc Trịnh vừa kiểm tra vừa toát mồ hôi hột, “Thật xin lỗi, không ngờ cậu lại định leo lên. Đồ này đều là đồ từ dự án trước, cậu phải kiểm tra một lượt lại đã.”
Lương Mục Dã cũng không để bụng, anh nói: “Tay lên dây thôi là đủ rồi. Tôi chỉ đem theo con
1D
27
, cũng chẳng phải đi xây nhà cao tầng hay gì.”
Kế hoạch của Triệu Nham vốn là dùng
Canon C300
gắn ống 90mm tilt-shift, chụp ảnh tĩnh từ mặt đất hướng lên. Kế hoạch của Lương Mục Dã là mang Canon 1D lên ngay trên vách băng, tự treo mình bằng dây tĩnh, chụp ở độ cao ngang hàng với vận động viên. Đồng thời để trợ lý dùng C300 đã
preset
28
sẵn để chụp bù các ảnh toàn cảnh ở phía dưới. Hiệu quả hơn kém nhau thế nào nhìn là thấy rõ.
Sáng buổi chụp đầu tiên, anh mất hai tiếng dựng nhanh hệ dây, test vị trí máy. Ông trời cũng chiều lòng người, ánh sáng và điều kiện địa hình đều rất tốt, nên khi kết thúc bộ ảnh đã đạt đúng yêu cầu của nhãn hàng.
Xem mẫu xong Trịnh Thành Lĩnh phấn khích đến độ còn cởi cả áo lông rồi đấm vai anh: “Không hổ là Mục Dã của chúng ta! Năm xưa cậu là người đầu tiên quay cảnh băng ở Mật Vân đấy. Bộ phim tài liệu ‘Đời người như núi’ hồi đó tôi còn xin được đĩa DVD của bạn, xem đi xem lại cả chục lần…”
Đương nhiên là Lương Mục Dã biết rõ. Mười năm trước anh hình như anh từng quay một số thứ ở đúng khu thác băng này. Khi ấy, Chung Ngạn Vân lần đầu tiên thử
leo núi không bảo hộ
29
hoàn toàn trên thác băng cao nhất vùng ngoại ô Bắc Kinh. Năm đó Chung Ngạn Vân mới hai mươi sáu tuổi, còn anh mới thi vào khoa Nhiếp ảnh, vừa tròn tuổi hai mươi. Bây giờ quay đầu nhìn lại chỉ thấy đúng là điên rồ.
Bên phía công ty ban đầu muốn Triệu Nham nhưng Triệu Nham lại có việc đột xuất, bỏ ngang vào ngay phút chót. Nào ngờ trong rủi lại tình cờ gặp may , Trịnh Thành Lĩnh rốt cuộc cũng mời được Lương Mục Dã, trong mắt y người này còn khó mời gấp trăm lần Triệu Nham.
Đến hôm thứ hai thì trời ấm hơn chút, một phần băng tuyết tan ra khiến tuyến đường hôm qua đã quyết định và ngắm kỹ gần như biến mất chỉ sau một đêm. Vậy nên mọi thứ phải làm lại từ đầu. Tuyến đường quay chụp của Lương Mục Dã cũng phải đổi theo, thậm chí các
điểm neo
30
nối bằng
móc khóa Carabiner
31
cũng phải nhổ ra cắm lại. Nhưng cả ê-kíp quay chụp cũng chẳng bận tâm, bảo đó mới là cái thú vui của bộ môn leo núi băng.
Lương Mục Dã đội mũ bảo hộ, trang bị đều đầy đủ cả. Nước băng tan từ bên trên dội xuống, sát vách băng cứ như mưa rào. Anh cũng toát mồ hôi mấy lượt, ướt hết cả mũ. Tới lúc hoàng hôn Tổng giám đốc Trịnh mới phẩy tay nói nghỉ, bảo ngày thứ ba không cần chụp nữa, lại còn rủ anh cùng họ leo thêm vài tuyến núi mới: “Lâu rồi cậu không qua nhỉ, dạo gần đây nó còn được chấm bậc rồi, hẳn
WI3
32
cơ đấy…”
Lương Mục Dã cười xua tay, từ chối nói: “Trang bị của tôi đều bán hết đi rồi, lần này đành thôi nhé Tổng giám đốc Trịnh.”
Trịnh Thành Lĩnh đáp: “Đừng khách khí vậy làm gì, trang bị bên chúng tôi có đủ, cậu cần gì cứ nói.”
Thấy đối phương không có vẻ gì là sẽ đồng ý, y cũng hiểu: “Cậu cũng muốn ổn định rồi hả, chắc trong nhà còn có người chứ gì. Tôi hiểu rồi, không sao đâu, đều là chuyện bình thường cả. Thôi thì sau này có duyên thì lại cùng hợp tác.” Rủi ro khi leo thác băng so với leo núi còn cao hơn, ấy cũng là lý do tại sao mà bọn họ tìm cả buổi trời cũng không tìm được nhiếp ảnh gia có thể treo dây chụp ở góc song song.
Lương Mục Dã gật đầu cảm ơn, không nói thêm điều gì nữa.
Khi đang thu dọn thiết bị tại trường quay, trợ lý Tiểu Đường cầm điện thoại của anh đi tới: “Điện thoại của anh cứ reo mãi, mấy lần rồi, hay là anh nghe đi.”
Những lúc đi leo núi ngoài trời Lương Mục Dã chưa bao giờ để điện thoại bên người, ấy là quy tắc lâu năm của anh, anh không muốn bị phân tâm bởi chuyện khác. Lần này dẫu là đi quay phim, nhưng do thói quen khó đổi, thế nên điện thoại của anh vẫn đưa cho Tiểu Đường giữ.
Cúi đầu xuống nhìn thì thấy số gọi đến là máy bàn ở nhà, chắc hẳn là mẹ anh, Hàn Tri Hạ đang gọi anh về ăn cơm.
Hàn Tri Hạ chắc là không biết anh đang ở ngoài, trò chuyện với anh dăm ba câu, cuối cùng còn nói trong điện thoại: “Mục Dã, mẹ biết dạo này con bận, nhưng cuối năm rảnh thì vẫn nên đến thăm ba con.”
Theo nguyên tắc LNT (leave-no-trace) của leo núi dã ngoại, tất cả những gì nhóm leo núi cắm vào khối băng đều phải mang xuống để thể hiện tôn trọng thiên nhiên, không được để lại chút dấu vết nào. Ngay cả Trịnh Thành Lĩnh cũng tự mình leo lên hỗ trợ, còn Lương Mục Dã thì dưới mặt đất giúp họ thu dây. Sợi dây dài 80 mét được anh quấn quanh hai vai mấy vòng, nghe thấy câu ấy của Hàn Tri Hạ, động tác của anh chậm lại nửa nhịp.
“Thế thì để ba tự gọi cho con.” Giọng anh khá bình thản, tay vẫn tiếp tục thao tác, gỡ nút chết an toàn ở cuối dây, “Tối nay mẹ muốn ăn gì? Con từ bên Mật Vân về, trên đường về con mua chút đồ ăn nhé, rồi cùng nhau ăn.”
Sợi dây
phựt
lên một tiếng rồi trượt toàn bộ xuống khỏi chốt khóa của bộ cố định. Anh tiếp tục khoác dây lên vai.
Hàn Tri Hạ biết rằng có khuyên nữa cũng vô ích, đành đáp: “Ăn món Vân Nam. Đừng gọi món nhiều dầu quá.”
“Vâng, mẹ yên tâm.”
Tác giả có lời:
Độ cao đóng băng là độ cao mà tại đó nhiệt độ bằng 0°C. Độ cao đóng băng càng thấp thì nhiệt độ trên núi càng lạnh.
WI: Water Ice (Băng nước), là một hệ thống phân cấp độ trong môn leo băng. Khác với Alpine Ice (Băng núi cao).
British Columbia
:
là tỉnh bang cực tây của Canada. Phía Tây giáp với biển Thái Bình Dương, phía Đông giáp với rặng Rockies và tỉnh bang Alberta. Phía Bắc giáp với tỉnh bang Yukon và phía Nam giáp với Hoa Kỳ.
↩︎
Whistler Blackcomb:
Một trong những khu nghỉ dưỡng trượt tuyết ở Britsh Columbia, diện tích hơn 3.300 ha và hơn 200 đường trượt khác nhau, nơi đây là khu trượt tuyết lớn nhất Bắc Mỹ với hệ thống cáp treo hiện đại.
↩︎
Độ cao đóng băng:
凍結高度 (dòng jié gāo dù): là độ cao mà tại đó nhiệt độ không khí bằng (0)°C, là điểm đóng băng của nước.
↩︎
Feet
(英尺): 1 feet = 0.3048m; trong truyện tác giả cố tình sử dụng đơn vị feet để thể hiện sự khác biệt giữa Canada với TQ, vậy nên mình sẽ để nguyên feet và ghi chú đổi đơn vị ra mét cho dễ hình dung.
↩︎
Ngoài đường chính
(châu Âu gọi là off-piste, Bắc Mỹ gọi là backcountry): khu vực trượt nằm ngoài vùng được quy hoạch của khu nghỉ dưỡng trượt tuyết (ski-resort), thường là vùng hoang dã và có khả năng xảy ra tuyết lở.
↩︎
Trượt trên tuyết bột
粉雪滑行 (Powder Skiing):
Là hoạt động trượt tuyết trên tuyết bột (Powder Snow), tức là loại tuyết mới rơi, khô, nhẹ, xốp và chưa hề bị máy móc ủi phẳng.
↩︎
S-turn:
là kỹ thuật di chuyển liên tục bằng cách thực hiện các lượt uốn cong hình chữ S.
↩︎
Địa hình nhân tạo
: Nguyên văn là 公园 (công viên)
: Công viên này không phải công viên bình thường mà đề cập đến Terrain Park, địa hình nhân tạo trong khu trượt tuyết
, sau này sẽ tiếp tục sử dụng cụm từ
“địa hình nhân tạo
” hoặc “
công viên địa hình nhân tạo
” để phân biệt với công viên thông thường.
Trong công viên thường chứa các chướng ngại vật nhân tạo (feature/ 道具):
–
Jumps / Kickers (Bục nhảy):
Các bục/dốc nhảy ( 跳台 – tiàotái) với kích cỡ khác nhau.
–
Rails (Đường trượt):
Các thanh trượt kim loại.
–
Boxes (Hộp trượt):
Các hộp bằng nhựa hoặc kim loại.
–
Halfpipe (Lòng máng):
Lòng máng hình chữ U.
↩︎
Big Air
:
大跳台 (bục nhảy lớn):
Một hạng mục thi đấu mà vận động viên lao dốc lấy đà, bay vọt lên không trung từ
một bục nhảy khổng lồ (jump- 跳台)
và thực hiện các động tác kỹ thuật phức tạp (như xoay vòng, lộn vòng) trước khi tiếp đất.
↩︎
Slopestyle
: 坡障(slopestyle): Không tập trung vào một cú nhảy khổng lồ như Big Air, mà thay vào đó là một lượt trượt (run) qua một đường trượt (course) được thiết kế đặc biệt với nhiều chướng ngại vật nhân tạo liên tiếp.
↩︎
Tuyết hoang núi lớn
(Freeride Big Mountain): 大山野雪 (đại sơn dã tuyết). Trong đó, dã tuyết = tuyết hoang. Big Mountain (núi lớn) có nghĩa là trượt ở những vách núi tự nhiên, cực kỳ dốc, nguy hiểm, không được ủi (ungroomed) và nằm ngoài khu vực đường trượt chính của khu nghỉ dưỡng trượt tuyết (ski-resort).
↩︎
Ski-resort:
Big Mountain Ski Resorts là cách gọi chung cho các khu nghỉ dưỡng trượt tuyết núi lớn, thường được xây dựng trên các dãy núi có địa hình dốc tự nhiên, nhiều tuyết vào mùa đông. Cụ thể hơn, “Big Mountain Ski Resort” không chỉ là nơi để trượt tuyết, mà là một khu nghỉ dưỡng phức hợp trên núi lớn, phục vụ cả thể thao, du lịch, nghỉ ngơi và giải trí, đặc trưng của các vùng có mùa đông dài và lượng tuyết dày (Mỹ, Canada, Nhật Bản, Thụy Sĩ…).
↩︎
Bộ ba an toàn tuyết lở
三件套 (Avalanche Safety Kit): ba vật dụng sống còn mà bất kỳ ai trượt tuyết/leo núi ở những khu vực ngoài đường trượt chính bắt buộc phải mang theo, gồm: thiết bị phát tín hiệu (信標 – beacon), thiết bị dò tìm (探測器 – transceiver) và xẻng gấp (挖掘機 – shovel)
↩︎
Hố cây
树井 (tree well): khi tuyết rơi dày, các cành cây sẽ che chắn, khiến tuyết không thể tích tụ và nén chặt ở ngay sát gốc cây. Điều này tạo ra một cái hố hoặc một khu vực tuyết cực kỳ xốp, không ổn định và khiến người trượt ngã vào.
↩︎
GoPro
: một thương hiệu camera của Mỹ, cho phép ghi hình chất lượng cao trong các hoạt động mạo hiểm và thể thao.
↩︎
Revelstoke
: thánh địa trượt tuyết hoang, nằm ở British Columbia, Canada. Nổi tiếng với địa hình tuyết hoang (backcountry) và lượng tuyết rơi dày nhất Bắc Mỹ
↩︎
Định tuyến (
route setter
): quan sát và tính toán, thiết kế đường leo núi trước khi bắt đầu leo.
↩︎
Tripod (三脚架): giá đỡ ba chân để cố định thiết bị quay chụp.
↩︎
Ống kính tilt-shift
: Ống kính Tilt-shift là dòng ống kính chuyên dụng để chụp ảnh Tilt-shift, một thể loại ảnh mà ở đó đối tượng bị thu nhỏ giống như ảnh chụp mô hình, đồ chơi; trong đó tilt-shift là chỉ kĩ thuật dịch chuyển hoặc nghiêng ống kính (chuyên dụng) để tạo ra những bức ảnh mà chủ thể trong ảnh có kích thước trông nhỏ hơn so với thực tế. Từ tilt-shift nhắc đến hai cách dịch chuyển khác nhau: tilt có nghĩa là quay (nghiêng) ống kính và shift là dịch chuyển ống kính song song với mặt phẳng của ảnh.
↩︎
f = 85 – 135mm.
↩︎
Dây tĩnh
: 静力绳(static rope): là loại dây thừng có độ giãn rất thấp, được thiết kế để không bị co giãn hoặc nảy khi chịu tải.
↩︎
Dây chống thấm
: 干绳(dry-treated rope): là loại dây có vỏ ngoài được chống thấm nước, được xử lý bằng một lớp phủ hóa học để chống lại sự hấp thụ nước. Lớp phủ này tạo ra một rào cản ngăn các phân tử nước thấm vào sợi dây. Dây leo núi tiêu chuẩn không qua xử lý sẽ hút nước nhanh chóng. Khi bị ướt, một sợi dây trở nên nặng hơn đáng kể, giảm độ bền và khó thao tác hơn với các dụng cụ hãm. Trong điều kiện lạnh, nước bị hấp thụ có thể đóng băng, làm cho dây trở nên cứng và gần như không thể sử dụng. (Nguồn: WeTrek)
↩︎
Thiết bị kẹp dây
: 上升器 (
ascender
): Leo dây bằng ascender, hay jumaring, là một phương pháp leo lên một sợi dây đã được cố định sẵn. Không leo trực tiếp trên vách đá. Thay vào đó là sử dụng các thiết bị cơ khí gọi là ascender để kẹp vào dây và đi lên. (Nguồn: WeTrek)
↩︎
Thiết bị kẹp dây có tay cầm
手升 (handled ascender): có tay cầm bọc cao su, kẹp dây tự hãm một chiều, cho phép người dùng leo lên dây thừng bằng cách trượt thiết bị lên nhưng không trượt xuống.
↩︎
Thiết bị kẹp dây đeo ngực
胸升 (chest ascender): là thiết bị lên dây gắn ở ngực dùng trong kỹ thuật để trượt lên dây một chiều và giữ cơ thể ở trên cao, phối hợp với thiết bị kẹp dây có tay cầm (hand ascender) khi trèo lên.
↩︎
Đai ngồi
坐鞍 (sit harness): là loại đai an toàn đeo quanh hông và đùi dùng để neo, treo và phân bố tải khi leo dây, leo núi, làm việc trên cao,… Cấu tạo gồm một đai lưng và hai quai ôm quanh đùi, có khóa điều chỉnh riêng cho từng bên.
↩︎
Canon 1D:
Canon EOS-1D C là máy ảnh DSLR chuyên nghiệp do Canon sản xuất và công bố ngày 12-4-2012
↩︎
Preset sẵn
: 预设好 (yùshè hǎo) trong nhiếp ảnh nghĩa là đặt sẵn / chuẩn bị trước các thiết lập để lúc chụp chỉ việc bấm. Dân nhiếp ảnh hay nói “preset sẵn”.
↩︎
Leo núi không bảo hộ:
hay còn gọi là leo núi freesolo, không dùng bất kỳ hình thức bảo hộ nào, tự chuẩn bị nhu yếu phẩm, không bình oxy, không cứu hộ.
↩︎
Điểm neo
: “锚点” (anchor) trên băng/đá để móc dây bảo hiểm vào để tránh bị rơi xuống.
↩︎
Móc khóa carabiner
:
hay còn gọi là khóa móc vòng, khóa móc Carabiner hình chữ D. Trong leo núi sẽ dùng để kết nối hai đầu của một sợi dây thừng, một vào điểm neo, một vào người leo núi.
↩︎
WI3
: Độ khó của leo thác băng nước (Water Ice), dễ nhất là WI1 cao nhất là WI7, WI3 là ở mức trung bình.
↩︎

Đăng Nhập

Đăng Ký Tài Khoản

Quên mật khẩu?

Nhập email của bạn và chúng tôi sẽ gửi hướng dẫn để đặt lại mật khẩu