Tâm Cuồng

Cài đặt

Kích thước chữ

Kiểu chữ

Chiều cao dòng

Xem trước

Đây là bản xem trước trải nghiệm đọc của bạn. Điều chỉnh các cài đặt ở trên.

Tâm Cuồng

Tác giả : Sơ Hòa 初禾

Chương 102: Vì Thiện (22)

Editor: Mộc
Hồ Thành Y năm nay 65 tuổi, là người sinh ra và lớn lên tại thôn Hàn Thử. Gia đình ông vốn có truyền thống làm nông, trước đây rất đông đúc, nhưng đến đời cha ông, các chú bác đều qua đời sớm, không để lại con cái, cha ông chỉ có một đứa con là ông.
Khi còn trẻ, cuộc sống ở nông thôn rất khó khăn, Hồ Thành Y không muốn làm nông dân, nhất quyết ra ngoài tìm kiếm cơ hội. Thế nhưng thời ấy, thành phố và nông thôn không khác nhau nhiều, đều khổ cực và khó khăn. Hồ Thành Y bỏ quê, lang thang khắp nơi, hết làm người chèo thuyền rồi lại làm dẫn đường cho thuyền, cũng cắt đứt liên lạc với gia đình. Sau mười mấy năm, tiền thì không kiếm được bao nhiêu mà sức khỏe thì suy kiệt, sau một lần bị thương không được chữa trị kịp thời đã trở thành người què quặt.
Thấy mình không còn trẻ, Hồ Thành Y quyết định trở về quê lấy vợ sinh con. Về đến quê, ông mới biết cha mẹ đã qua đời, để lại cho ông mảnh đất cằn cỗi và ngôi nhà cũ kỹ. Thấy bản thân bất hiếu nên ông đã ở nhà thờ phụng để tang cha mẹ ba năm, không còn ý định kết hôn hay nỗ lực làm ăn, vì vậy ông lại rời quê, đến chùa Hải Kính ở Thủ Tuyền để quy y cửa phật.
Ở chùa Hải Kính lúc đó không nhiều tăng nhân, chỉ có một trụ trì tên Khuy Trần và một vài hòa thượng già yếu.
Khi đó Hồ Thành Y mới 33 tuổi, là hòa thượng trẻ nhất trong số các tăng nhân, được đặt tên là Ngộ Thanh. Mỗi ngày, ông ngoài việc thiền định và tụng kinh với trụ trì và các hòa thượng già, còn phải quét dọn sân trước và sân sau. Công việc nấu ăn cũng do Hồ Thành Y đảm nhiệm, nhưng công việc này không phức tạp, các hòa thượng ăn rất ít, chỉ cần một bát cháo loãng và một đĩa rau xanh là đủ. Khuy Trần chỉ lớn hơn Hồ Thành Y vài tuổi, tuy là đàn ông trưởng thành, nhưng có lẽ vì tu hành lâu năm, nên ăn uống cũng rất ít.
Thời gian trôi qua, khi ấy núi Kỳ Nguyệt vẫn chưa được gọi là núi Kỳ Nguyệt. Không có khách du lịch, khách hành hương thập phương cũng rất ít, thỉnh thoảng có hòa thượng từ các chùa khác đến hóa duyên và nghỉ lại, còn lại ngày nào cũng giống ngày nấy.
Năm năm trôi qua trong chớp mắt.
Trong năm năm đó, hai vị hòa thượng già trong chùa đã qua đời, bốn vị còn lại cũng có vẻ không còn sống được lâu nữa. Mặc dù tên của Hồ Thành có chữ “y” (y học), nhưng ông không biết gì về y học. Những vị hòa thượng già không phải là máu mủ ruột rà của ông, nhưng vì sống chung lâu ngày, ông không muốn thấy họ qua đời vì không được cứu chữa, nên đã đề nghị với Khuy Trần rằng có thể đưa các hòa thượng xuống núi để khám tại bệnh viện.
Khuy Trần đã từ chối, nói rằng mọi việc trên đời đều có nhân quả, họ có thể sống đến tuổi nào thì sống đến tuổi đó.
Hồ Thành Y đã tu thiền được năm năm, nhưng có nhiều điều vẫn không thể thấu hiểu. Nghe Khuy Trần nói như vậy, ông không khỏi có những nghi ngờ về Khuy Trần, vì vậy ông đã lén hỏi các vị hòa thượng già không còn khả năng ăn uống, nếu họ đồng ý xuống núi, ông sẽ bất chấp sự ngăn cản của Khuy Trần, cõng họ xuống núi vào ban đêm.
Tuy nhiên, các hòa thượng già đều nói những lời tương tự như Khuy Trần.
Vì thế, Hồ Thành Y đành phải từ bỏ ý định đó.
Nguồn copy từ TruyenLau.com Sau khi một hòa thượng già nữa qua đời, vậy mà lại có một người trẻ tuổi đến chùa, muốn xuất gia.
Người này chính là Lưu Tuế.
Hồ Thành Y nghe nói rằng, Lưu Tuế là một giáo viên ở thị trấn, dạy văn học, cha mẹ còn khỏe mạnh, điều kiện gia đình đủ đầy. Vì vậy, ông cảm thấy rất khó hiểu.
Khuy Trần không lập tức tiếp nạp Lưu Tuế vào chùa.
Hồ Thành Y nghe thấy Khuy Trần nói với một vị sư già rằng Lưu Tuế có những ý nghĩ xấu xa trong lòng. Nguồn copy từ TruyenLau.com
Hồ Thành Y ngay lập tức nghĩ đến bản thân mình.
Năm năm trước, khi ông mới đến chùa Hải Kính, Khuy Trần đã nhanh chóng tiếp nhận ông.
Chẳng lẽ nhìn thoáng qua Khuy Trần có thể biết ông là một người ngay thẳng và không có ý đồ xấu sao?
TruyenLau Đang suy nghĩ, Hồ Thành lại nghe thấy các hòa thượng già nói với giọng khô khan rằng: “Phật cứu độ chúng sinh, chính vì Lưu Tuế có ý đồ xấu, nên mới cần phải tiếp nhận anh ta để cảm hóa anh ta.”
Nửa tháng sau, Lưu Tuế vào chùa.
Hồ Thành Y không có thái độ gì với Lưu Tuế. Những lời nói của Khuy Trần về ý đồ xấu, ông không thấy ở Lưu Tuế, ngược lại, ông cảm thấy Lưu Tuế là người hiền hòa, cẩn thận, và có trí tuệ hơn cả ông.
Vài tháng sau, chùa lại đón một giáo viên khác, là đồng nghiệp của Lưu Tuế, Đường Viễn.
Lần này, Hồ Thành Y không nghe thấy cuộc trò chuyện giữa Khuy Trần và các vị sư già.
Nhưng Đường Viễn, giống như Lưu Tuế, cũng không được Khuy Trần tiếp nhận ngay lập tức.
Hồ Thành Y nghĩ mãi mà không hiểu hai người này có điểm gì kém hơn mình – nhớ ngày đó, bản thân ông đã được cạo tóc và xuất gia ngay lập tức.
Cuối năm đó, chỉ còn lại một hòa thượng già trong chùa. Nhưng nhờ có những người mới, chùa không còn vẻ vắng lặng.
Năm này qua năm khác, có hòa thượng đến, cũng có hòa thượng đi. Các hòa thượng già đều qua đời, ước chừng bảy năm trước, sức khỏe của Khuy Trần bắt đầu giảm sút, không chỉ ho liên tục mà còn ngày càng già đi.
Hồ Thành Y rất lo lắng, muốn đưa Khuy Trần đến bệnh viện, nhưng ông nhớ lại những gì Khuy Trần đã nói trước đó, ông do dự, cuối cùng quyết định hỏi ý kiến Khuy Trần.
Khuy Trần nói rằng ông muốn xuống núi để “du hành”.
“Tôi đã ở trên núi này nhiều năm rồi, cũng đã đến lúc đi xem thế giới bên ngoài kia.”
Hồ Thành Y có một dự cảm rất xấu – Khuy Trần có thể sẽ không trở về. Có lẽ ông đã dự đoán rằng mình không còn sống được lâu nữa, nên muốn tìm một nơi vắng vẻ để chết trong lặng lẽ.
Nếu là nhiều năm trước, Hồ Thành Y chắc chắn đã tìm mọi cách để ngăn cản, nhưng sau nhiều năm tu hành, Hồ Thành Y đã hiểu rằng mọi sự vật đều có lý do phát triển của nó, mình không nên can thiệp vào quyết định của Khuy Trần.
Ngày Khuy Trần xuống núi, những chiếc lá ngân hạnh trên núi đã chuyển màu vàng, như để tiễn biệt người hòa thượng đã ở trên núi lâu năm.
Hồ Thành Y cùng Lưu Tuế và Đường Viễn đứng nhìn Khuy Trần rời đi, bóng lưng của Khuy Trần ngày càng nhỏ dần trong những chiếc lá ngân hạnh lấp lánh, cảnh tượng đó Hồ Thành Y vẫn nhớ mãi.
Minh Thứ nói: “Khuy Trần rời khỏi chùa từ bảy năm trước?”
Hồ Thành Y nhấp một ngụm trà màu nâu đậm: “Đúng vậy, bảy năm trước, đó là lần cuối cùng tôi thấy Khuy Trần mà tôi quen thuộc.”
Minh Thứ hỏi: “Điều gì khiến ông cảm thấy rằng Khuy Trần sau đó không còn là Khuy Trần thực sự nữa?”
Hồ Thành Y tiếp tục kể.
Khi Khuy Trần rời chùa là vào mùa thu, nhưng khi trở về thì đã là năm sau. Dù là hình dáng hoàn toàn giống nhau, nhưng Hồ Thành Y cảm thấy vô cùng xa lạ.
Trước đây, trong ánh mắt của Khuy Trần thường chỉ có sự bình tĩnh và từ bi, nhưng giờ đây, đứng trước mặt ông là Khuy Trần với ánh mắt đầy lạnh lùng và toan tính.
Hồ Thành Y chợt hiểu tại sao năm xưa Khuy Trần lại nói rằng Lưu Tuế có ý nghĩ xấu xa. Thực ra, lòng người có thể hiện ra qua ánh mắt, trước đây ông không thể nhận ra, nhưng sau nhiều năm tu hành, ông đã dần nhận ra được một chút.
Tuy nhiên, để nói rằng người trở về không phải là Khuy Trần, thì thật ra khả năng không lớn.
Ai có thể giống nhau đến mức không phân biệt được như vậy?
Hơn nữa, Khuy Trần vẫn gọi đúng tên tục và pháp danh của mình.
Nhưng dù sao, Hồ Thành Y vẫn không thể gạt bỏ chuyện này khỏi tâm trí mình.
Khi Khuy Trần rời khỏi vào mùa thu, ông đã mắc một căn bệnh nghiêm trọng, nhưng khi trở về, bệnh tình hoàn toàn biến mất, cơ thể trở nên khỏe mạnh hơn rất nhiều.
Khuy Trần nói rằng ông đi “du hành”, vậy có phải ông xuống núi để chữa bệnh không?
Với phẩm hạnh của Khuy Trần, ông không nên nói dối như vậy.
Hơn nữa, không chỉ mình Khuy Trần trở về, mà còn dẫn theo một người trẻ tuổi cực kỳ u ám và kỳ quái.
Người này tên là Ân Tiểu Phong, giọng nói của cậu ta không giống người dân ở thành phố Đông Nghiệp và các vùng lân cận. Khuy Trần đã nhận cậu ta làm đồ đệ và đặt tên là Ngộ Niệm.
“Khoan đã.” Minh Thứ ngắt lời, “Ân Hiểu Phong không phải tự mình tới chùa Hải Kính mà là được Khuy Trần đưa về?”
Hồ Thành Y gật đầu.
Minh Thứ đứng dậy, vừa đi đi lại lại vừa suy nghĩ.
Cách đây không lâu, khi y đang điều tra lai lịch của Ân Tiểu Phong, y đã gặp một nút thắt mà vẫn chưa cởi bỏ được. Quê hương của Ân Tiểu Phong là ở Lương Hề xa xôi, dù cho anh ta có lang bạt khắp nơi sau khi rời khỏi bệnh viện tâm thần, cũng không thể tình cờ lại đến chùa Hải Kính được.
Nếu Ân Tiểu Phong là được Khuy Trần đưa về chùa, thì điều này mới hợp lý.
Nhưng tại sao Khuy Trần lại mang về một người có khuynh hướng bạo lực nghiêm trọng?
Như các hòa thượng già đã nói, có phải là để cảm hóa Ân Hiểu Phong không?
Nếu giả sử Khuy Trần vẫn là Khuy Trần năm xưa, thì lý do này cũng hợp lý. Nhưng theo ý của Hồ Thành Y, bề ngoài Khuy Trần không thay đổi, nhưng bên trong thì đã khác hẳn.
Vì lý do gì mà chỉ trong chưa đầy một năm, tính cách của Khuy Trần lại thay đổi lớn đến vậy?
Hay là Khuy Trần thực sự không còn là Khuy Trần nữa?
“Ân Tiểu Phong chưa từng bắt chuyện với người khác.” Hồ Thành Y nói: “Chỉ thỉnh thoảng nói vài câu với Khuy Trần. Khả năng lĩnh ngộ của tôi kém. Khuy Trần trước đây thường giảng Phật pháp cho tôi, nhưng sau khi trở về, ông ấy không giảng nữa.”
Minh Thứ ánh mắt sâu thẳm: “Bởi vì Khuy Trần này đã không còn hiểu Phật pháp!”
Điều khiến Hồ Thành Y bối rối nhất xảy ra sau đó.
Chùa Hải Kính trong vài thập kỷ qua hiếm khi nhận tu sĩ mới. Một phần vì Khuy Trần rất thận trọng, phần nữa là số người đến xuất gia ở chùa vốn đã ít. Nhưng sau khi Khuy Trần trở về, ông đã lần lượt thu nhận Chử Giang, Vương Lộ, Thường Khánh Anh và Sở Tín.
Tính cả Ân Hiểu Phong được mang về, tổng cộng có năm người.
Hồ Thành Y dần trở nên xa cách với Khuy Trần, nhưng ông thường quan sát những người mới đến, và phát hiện dù họ đã xuất gia, nhưng đều không có phong thái của một tăng nhân thực sự. Đặc biệt là Sở Tín, người đến sau cùng, luôn ăn nói thô tục, không có chút phong thái nào của người xuất gia.
Nếu nói Khuy Trần tiếp nhận họ để cảm hóa, điều đó cũng không đúng. Hồ Thành Y phát hiện ra rằng Khuy Trần không chỉ ít tiếp xúc với mình, mà cũng rất ít giao tiếp với những tăng nhân mới.
Phải chăng để mặc họ như vậy cũng là một hình thức cảm hóa?
Khi tuổi tác ngày càng lớn, Hồ Thành Y càng cảm thấy chùa Hải Kính không còn là chùa Hải Kính như xưa. Xung quanh những tăng nhân dường như trong lòng ai cũng có quỷ, còn trụ trì thì có một kế hoạch đen tối trong lòng. Ở đây, ông không tìm được sự bình yên mà mình mong muốn, thậm chí còn cảm thấy sợ hãi.
Một ngôi chùa lại khiến một người đã tu hành ở đây vài chục năm cảm thấy sợ hãi.
Ba năm trước, Hồ Thành Y đã đề xuất rời chùa đi “du hành”, với lý do là đi khám phá thế giới bên ngoài. Thay vì khuyên can, Khuy Trần thậm chí còn nói với ông câu đầy ý tứ sâu xa – Có lẽ cuộc sống dưới núi, sẽ phù hợp với cậu hơn.
“Điều này có nghĩa là gì?” Minh Thứ hỏi, “Có phải Khuy Trần muốn ông đừng quay lại chùa không?”
Hồ Thành Y nói: “Đó là cách tôi hiểu. Nhưng theo tôi biết, không có vị trụ trì nào lại nói những lời như vậy với một tăng nhân chuẩn bị rời đi.”
Minh Thứ đã chắc chắn rằng, Khuy Trần có vấn đề.
Hồ Thành Y là tăng nhân đầu tiên được Khuy Trần tiếp nhận 32 năm trước. Lưu Tuế và Đường Viễn cũng được tiếp nhận bởi Khuy Trần thực sự 27 năm trước.
Nhưng khi đối mặt với hai người đó, Khuy Trần đã đấu tranh. Chỉ sau khi có sự khuyên nhủ của các vị sư già, ông mới chấp nhận Lưu Tuế và Đường Viễn, đồng thời nỗ lực cảm hóa họ.
Còn sáu năm trước, Khuy Trần, người trở lại chùa Hải Kính mang theo Ân Tiểu Phong, sau đó lại tiếp nhận Thường Khánh Anh, Chử Giang, Vương Lộ, Sở Tín, và cả Phương Bình Húc mà Hồ Thành Y chưa từng gặp.
Hiện tại, đã biết Lưu Tuế, Đường Viễn, Ân Tiểu Phong và Phương Bình Húc ai nấy đều có một mặt tối khác thường. Lưu Tuế và Đường Viễn, giống như Hồ Thành Y, là những tăng nhân tu hành từ nhiều năm trước tại chùa. Lưu, Đường không rời đi, còn Hồ Thành Y khi rời đi, Khuy Trần đã hy vọng ông không trở lại.
Đây là đem nhà sư duy nhất thuộc về chùa Hải Kính đuổi đi.
Vậy thì những người còn lại ở chùa…
Minh Thứ hít sâu một hơi, bỗng nhớ đến ca phẫu thuật tim của Sở Tín ở nước ngoài.
Liệu ca phẫu thuật đó có liên quan đến điều gì không?
Nếu như toàn bộ chùa Hải Kính đầy rẫy những người có ác ý, vậy thì những người mất tích như Thường Khánh Anh, Chử Giang, và Vương Lộ đã làm những việc xấu xa gì chưa muốn để lộ cho người khác biết?
Họ có phải là những người mà Khuy Trần trở về đã tập hợp lại tại chùa Hải Kính không?
Khuy Trần rốt cuộc muốn làm gì?
Thành phố Đông Nghiệp, thị trấn Phong Hương.
Chử Giang, người đã rời chùa vào mùa hè năm ngoái, trước đây làm việc tại trang trại bò sữa duy nhất trong trấn. Ông đã xuất gia từ sáu năm trước. Vật đổi sao dời, giờ đây các sản phẩm từ sữa của chuỗi cửa hàng đã chiếm lĩnh thị trường, trang trại bò sữa cũng đã đóng cửa từ lâu.
Từ Xuân đã tìm đến một trong những người quản lý của trang trại bò sữa năm xưa, ông Văn, năm nay 60 tuổi.
Trang trại bò sữa không phải là một doanh nghiệp lớn, nên là một lãnh đạo có thể nhớ hết tên của tất cả nhân viên.
Nhắc tới Chử Giang, ánh mắt của ông Văn hiện lên vẻ khó xử.
Từ Xuân nói: “Nếu Chử Giang có vấn đề gì, xin ông hãy nói thật với tôi.”
Sau một hồi im lặng, ông Văn cuối cùng cũng nói: “Chử Giang đã gây ra cái chết cho một người.”
Lông mày Từ Xuân chợt nhíu lại.
Ông Văn tiếp tục giải thích: “Không phải là giết người đâu, thực ra chuyện này cũng không hoàn toàn lỗi của cậu ta.”
Theo lời ông Văn, trang trại bò sữa trước đây có một công nhân rất chăm chỉ, người này là một góa phụ, chồng đã qua đời sớm, một mình chăm sóc cả hai bên cha mẹ.
Vì áp lực cuộc sống quá lớn, góa phụ làm việc rất vất vả, mỗi tháng đều nhận được tiền thưởng cao nhất trong số tất cả công nhân. Điều này đã gây ra sự ghen tỵ.
Góa phụ trước giờ không bao giờ trang điểm, chỉ mặc những bộ đồ chắp chỗ này vá chỗ nọ, nhìn qua thì rất quê mùa. Nhưng thực tế, khuôn mặt góa phụ có đường nét rất đẹp. Có một năm vào Ngày Quốc tế Lao Động, vì phải lên sân khấu biểu diễn, góa phụ hiếm hoi lắm mới trang điểm và mặc một bộ đồ đẹp, ngay lập tức trở thành tâm điểm chú ý của mọi người.
Từ đó trở đi, đàn ông trong trang trại bắt đầu trêu chọc cô bằng những trò đùa thô thiển, có người thậm chí còn sờ mó cô. Chử Giang, người còn độc thân, là một trong những người có hành động quá trớn nhất.
Góa phụ thân là phụ nữ, lo lắng rằng nếu phản kháng quá mạnh có thể bị mất việc, vì vẫn còn bốn người già trong nhà sống dựa vào tiền lương của cô. Dần dần, trong trấn có người bắt đầu đồn rằng góa phụ đã quyến rũ đàn ông trong trang trại bò sữa.
Sự việc này đã gây phẫn nộ trong dư luận. Đầu tiên, vợ của những người đàn ông đó đã đến trang trại bò sữa để đe dọa, yêu cầu sa thải góa phụ. Góa phụ đã khóc lóc cầu xin giám đốc đừng sa thải mình.
Khi các bà vợ biết rằng góa phụ vẫn đang làm việc tại trang trại, họ càng tức giận hơn, và đã đến nhà bố mẹ chồng của góa phụ để đòi công lý.
Lời đồn đãi gây ra nhiều tai tiếng, danh tiếng của góa phụ trong thị trấn đã hoàn toàn bị phá hủy.
Cuối năm đó, trang trại bò sữa gặp áp lực, dù biết rằng lỗi không phải của góa phụ và hiểu rằng cô không thể mất công việc này, trang trại bò sữa vẫn quyết định sa thải cô.
Trước Tết, trong bối cảnh bị lời đồn đãi mắng nhiếc và kinh tế khó khăn, góa phụ đã nhảy sông tự tử, thi thể của cô sau một tuần mới được phát hiện.
Sau cái chết của góa phụ, dư luận có vẻ đã thay đổi thái độ, nhận ra rằng những người thực sự có lỗi là những người đàn ông đã sàm sỡ cô và vợ của họ. Khi người chết không còn, những người này lại bắt đầu chỉ trích lẫn nhau. Dần dần, người ta phát hiện ra rằng người đầu tiên trêu chọc góa phụ chính là Chử Giang.
Chử Giang ngay lập tức trở thành mục tiêu chỉ trích của dư luận.
Con người thường vậy, mặc dù chính mình cũng đã làm sai, nhưng chỉ cần không phải là người đầu tiên phạm lỗi, thì khi truy cứu, mình không chỉ không sai mà còn có quyền trừng phạt người đầu tiên mắc lỗi.
Chử Giang bị cô lập, người thân xa lánh, cuối cùng cậu ta cũng mất công việc mà mình dựa vào để sinh sống.
Toàn bộ trấn Phong Hương không ai muốn thuê cậu ta.
“Vậy ra Chử Giang đã xuất gia sao?” Ông Văn nói, “Chuyện đó tôi không biết. Quyết định sa thải Chử Giang là tôi truyền đạt, tôi cũng không còn cách nào khác, cậu ta nói rằng mình có thể hiểu được. Chúng tôi thực tế không đối xử tệ với cậu ta, bồi thường đúng mức, không thiếu một xu nào. Việc này thực sự do lỗi của cậu ta mà, ai bảo cậu ta đầu têu quấy rối góa phụ. Cậu cảnh sát này, cậu thấy có đúng không?”
Sau khi rời khỏi nhà ông Văn, Từ Xuân lại đến đồn cảnh sát trấn Phong Hương. Lời khai của các cảnh sát ở đây không khác nhiều so với những gì ông Văn đã nói; họ đều nói Chử Giang chưa từng phạm tội nghiêm trọng nào, nhưng không phải là người dễ quản lý. Trong thị trấn, bất cứ chuyện vặt vãnh, lời ra tiếng vào nào cũng có bóng dáng của anh ta.
Từ Xuân không khỏi nhớ đến một vị sư khác cũng mất tích là Vương Lộ.
Trước khi đến thị trấn Phong Hương để điều tra Chử Giang, anh đã đến trấn Thủ Tuyền điều tra về Vương Lộ.
Vương Lộ năm nay 36 tuổi, cũng xuất gia cùng thời điểm với Chử Giang, tức là sáu năm trước. Sự khác biệt là, trong khi Chử Giang từng có công việc, thì Vương Lộ đã thất nghiệp nhiều năm.
Bố của Vương Lộ đã qua đời từ lâu, mẹ anh được chị gái Vương Hi chăm sóc.
“Là cái thứ đồ vô dụng!” Vương Hi đánh giá về em trai của mình như vậy.
Tại một nơi nhỏ như thị trấn Thủ Tuyền, giàu sang phú quý khó kiếm, nhưng tìm một công việc, lấy vợ và sống cuộc sống bình thường như bao người khác thực ra rất dễ. Nhưng Vương Lộ từ nhỏ đã lười biếng, không chịu làm ăn gì, sau khi tốt nghiệp cấp hai đã bắt đầu sống cuộc đời ăn không ngồi rồi. Bố mẹ nhờ vả đủ loại công việc, Vương Lộ đều không muốn làm, lại vừa lười vừa dốt, dựa vào việc bố mẹ không nỡ đuổi ra khỏi nhà nên cứ ở nhà ăn bám, cuối cùng đã làm cho bố mình tức chết.
“Sau khi bố mất, tôi đưa mẹ về nhà mình ở cùng.” Vương Hi nói: “Thằng khốn đó cũng muốn theo. Tôi không dễ tính như bố mẹ tôi, họ thương nó, chứ tôi không thương. Đây là nhà của vợ chồng tôi, trong nhà còn có hai đứa nhỏ, làm sao chứa nổi nó? Dù có chứa nổi thì tôi cũng sẽ không nuôi!”
Từ Xuân hỏi: “Vậy nên cô đã đuổi Vương Lộ đi?”
“Không đuổi thì để nó hại cả gia đình tôi à?” Vương Hi là quản lý cấp trung của một công ty địa phương, nói chuyện rất mạnh mẽ, “Tôi là chị của nó, đúng, nhưng tôi không có nghĩa vụ phải nuôi nó. Nó là một thằng đàn ông trưởng thành, có tay có chân, đi làm gì chẳng nuôi sống được bản thân? Tôi sẽ không để con cái mình tiếp xúc với nó, cũng không cho nó bước chân vào nhà tôi!”
Từ Xuân gọi điện cho Minh Thứ: “Bề ngoài, Vương Lộ và Chử Giang không có điểm gì chung, nhưng cả hai đều có vấn đề. Vương Lộ sống ăn bám, khiến bố mình tức giận đến chết, còn Chử Giang thì có hành vi không đứng đắn, một phần dẫn đến cái chết của góa phụ. Theo pháp lý, họ có thể không phạm tội, nhưng về mặt đạo đức, họ đều là những người thiếu phẩm hạnh.”
Minh Thứ đã dự đoán được kết quả này. Trong bốn người rời khỏi chùa Hải Kính, chỉ có Hồ Thành Y, người không có vấn đề về phẩm hạnh, hiện đang sống bình an.
Còn về Thường Khánh Anh…
Thường Khánh Anh năm nay 47 tuổi, người Lạc Thành. Cảnh sát Đông Nghiệp không phải là không thể điều tra, nhưng cảnh sát địa phương sẽ dễ dàng tìm ra những điểm mấu chốt hơn.
Trước khi đến thôn Hàn Thử, Minh Thứ đã gọi điện cho Hoa Sùng, giải thích tình hình và nhờ Hoa Sùng cử người hỗ trợ. Cảnh sát Lạc Thành làm việc cực kỳ hiệu quả và ngay lập tức đã tìm ra toàn bộ sự việc.
Hoa Sùng không biết có phải bị cảm lạnh hay không, nhưng giọng nói từ trong điện thoại phát ra khàn khàn hơn bình thường: “Người tên Thường Khánh Anh mà cậu muốn điều tra này, mặc dù chưa có tiền án tiền sự, nhưng ở công ty xây dựng nơi anh ta từng làm việc, có một nhân viên đã nhảy lầu tự tử”.
Minh Thứ hỏi: “Chuyện này có liên quan đến Thường Khánh Anh sao?”
“Người chết tên là Tằng Phiếm, làm cùng phòng ban với Thường Khánh Anh. Khi Tằng Phiếm mới vào làm, anh ta là sư phụ của cậu ta, Hoa Sùng nói: “Sáu năm trước, công ty nhận một dự án quảng cáo ngoài trời cho chính phủ, phòng ban của Thường Khánh Anh và Tằng Phiếm đơn vị thực hiện chính. Nhưng dự án này tiến hành không được thuận lợi, công ty không những không kiếm được tiền mà còn làm hỏng danh tiếng của mình. Sau khi xem xét, trách nhiệm thuộc về Tằng Phiếm, là do cậu ta mắc ít nhất ba lỗi trong quá trình lập kế hoạch ban đầu, dẫn đến sai lầm chồng chất.”
“Khoan đã.” Minh Thứ ngắt lời, “Ai nói trách nhiệm thuộc về Tằng Phiếm?”
Hoa Sùng cười nói: “Đó là tuyên bố chính thức từ phòng nhân sự của công ty. Nhưng sau đó, đội của tôi tìm hiểu được rằng, lúc đó Tằng Phiếm nghe theo lời khuyên của Thường Khánh Anh mới mắc lỗi, nếu cứ truy cứu đến cùng thì Thường Khánh Anh ở đây cũng không thể thoát tội.”
Minh Thứ nói: “Tằng Phiếm bị đẩy ra làm vật tế thần à?”
“Dù sao thì trên danh nghĩa, Tằng Phiếm mới là người chịu trách nhiệm trực tiếp, lúc đó Thường Khánh Anh là cấp trên của cậu ta, mặc dù có trách nhiệm giám sát và đưa ra lời khuyên, nhưng việc thực hiện cụ thể vẫn là do Tằng Phiếm làm.” Hoa Sùng nói: “Quyết định của công ty không gây ra nhiều tranh cãi, nhưng Tằng Phiếm phản ứng rất mạnh, khăng khăng cho rằng chính Thường Khánh Anh đã hại mình, và anh ta đã cố tình làm vậy. Về điểm này, chúng tôi còn biết thêm một chi tiết nữa – Tằng Phiếm là người rất có tham vọng và làm việc tốt, được cấp trên công ty đánh giá cao, nhưng Thường Khánh Anh luôn kìm kẹp cậu ta, nếu muốn thăng tiến nhanh chóng, cậu ta phải vượt qua Thường Khánh Anh. Vậy thì liệu Thường Khánh Anh có để cậu ta vượt qua không?”
Minh Thứ nói: “Thường Khánh Anh sớm đã nhận ra rằng thế hệ trẻ rất đáng gờm, Tằng Phiếm là mối đe dọa lớn nhất trong sự nghiệp của anh ta…”
Hoa Sùng ho khan vài tiếng rồi tiếp tục: “Có vẻ như phán đoán của chúng ta trùng khớp. Thường Khánh Anh rất có thể đã cố tình dùng dự án của công ty để hãm hại Tằng Phiếm nhằm trấn áp cậu ta, nhưng anh ta không ngờ rằng Tằng Phiếm không thể chịu nổi, và sau khi quyết định xử phạt được đưa ra không lâu, đã tự tử bằng cách nhảy lầu.”
Mọi thứ dần kết nối lại với nhau. Minh Thứ nhắm mắt lại, các manh mối như thể có hình dạng vật chất, phát ra âm thanh liên kết trong đầu.
Chử Giang, Vương Lộ và Thường Khánh Anh đều vì đạo đức kém mà gián tiếp gây ra cái chết cho người bên cạnh.
“Sau khi Tằng Phiếm xảy ra chuyện, gia đình cậu ta gây rối ở công ty, yêu cầu phải có lời giải thích. Ban đầu công ty quanh co chối bay chối biến, nhưng sau đó chuyện này bị người trẻ tuổi nhà họ Tăng vạch trần trên truyền thông.” Hoa Sùng nói tiếp: “Không lâu sau, Thường Khánh Anh, với tư cách là cấp trên trực tiếp, đã chủ động xin từ chức.”
Minh Thứ hỏi: “Lý do là gì?”
“Không hoàn thành tốt công tác đối với nhân viên.” Hoa Sùng nói: “Tất nhiên bên bộ phận nhân sự sẽ không nói thẳng là Thường Khánh Anh đã lừa gạt Tằng Phiếm. Chuyện sau đó hẳn cậu đã biết, Thường Khánh Anh xuất gia làm hòa thượng ở chùa Hải Kính.”
Minh Thứ nghe thấy tiếng cửa mở, rồi là tiếng bước chân.
“Thuốc đây, mau uống đi.” Là giọng nói của Liễu Chí Tần.
Minh Thứ hỏi: “Tổ trưởng Hoa, anh bị bệnh à.”
Hoa Sùng cười: “Trời giao mùa bị cảm lạnh, chuyện nhỏ thôi. Này, Tiểu Liễu ca, của tôi…”
“Bạn học Minh.” Liễu Chí Tần đã lấy điện thoại từ tay Hoa Sùng.
Mí mắt Minh Thứ giật giật: “Thầy Liễu.”
Liễu Chí Tần nói: “Tổ trưởng Hoa bị đau họng, có gì hỏi tôi cũng được.”
“Không có chuyện gì nữa.” Minh Thứ ít khi nói chuyện tử tế với Liễu Chí Tần, nghe thấy đổi người, y liền nói: “Vậy anh chăm sóc tổ trưởng Hoa cho tốt nhé, rượu tôi nhớ rồi, anh đừng nhắc lại nữa.”
Liễu Chí Tần cười nói: “Sao lại nhắc đến rượu ngay thế?”
Minh Thứ nghĩ thầm, chẳng phải để bịt miệng anh sao!
Hoa Sùng uống thuốc xong rồi lấy lại điện thoại, Minh Thứ nghe anh nói với Liễu Chí Tần: “Em đang nói chuyện công việc với tổ trưởng Minh.”
Minh Thứ nói: “Nói chuyện với người nghiêm túc đúng là dễ chịu hơn.”
Hoa Sùng hỏi: “Hả?”
“Không có gì.” Minh Thứ khẽ ho, rồi lại bàn bạc với Hoa Sùng vài câu, sau đó mới cúp máy.
Không lâu sau, tổ trọng án báo tin – danh tính thật sự của Khuy Trần đã cơ bản xác định được.

Đăng Nhập

Đăng Ký Tài Khoản

Quên mật khẩu?

Nhập email của bạn và chúng tôi sẽ gửi hướng dẫn để đặt lại mật khẩu