Năm Thành Thái thứ sáu, ngày mười ba tháng mười, tại Thanh Châu, bầu trời trong xanh như được gột rửa.
Tin đồn về việc Trấn Quốc Tướng quân Tần Vưu và Tả Tham nghị Lăng Nhược Phàm thông đồng với địch phản quốc, hãm hại trung lương được lan truyền nhanh chóng, chỉ một đêm đã như lửa cháy đồng, ai ai cũng biết.
Vô số dân chúng Thanh Châu truyền tin cho nhau, có người biết từ Thịnh Kinh có một vị Ngự sử đến, bèn cùng nhau kéo đến phủ Tuần án, thỉnh cầu triều đình điều tra lại vụ án mưu phản của Vệ gia, Hoắc gia từ bảy năm trước.
Trong bảy năm qua, hễ có dân chúng minh oan cho hai họ Vệ Hoắc, đều bị bắt giam với tội danh đồng phạm trong vụ án mưu phản.
Vụ án mưu phản đó từ lâu đã trở thành một cái gai trong lòng dân chúng Thanh Châu, muốn nhắc lại mà không dám, nhưng chạm vào là đau.
Giờ đây Tần Vưu bị bắt, Lăng Nhược Phàm đã bị giết, cuối cùng lại có người dám mạo hiểm nhắc lại chuyện cũ dù có nguy cơ bị bắt giam, cùng nhau khẩn cầu vị Ngự sử từ Kinh thành có thể tâu lên Hoàng thượng về nguyện vọng của dân Thanh Châu.
Khương Lê nghe được chuyện này từ bà chủ một tiệm hoành thánh.
Bà chủ đã bốn mươi sáu tuổi, sau khi nói chuyện với chủ tiệm mì bên cạnh, liền giao tiệm cho tiểu nhị, tháo tạp dề dầu ở thắt lưng rồi vội vã đi về phía phủ Tuần án.
Trước khi đi còn không quên nói: “Ta không tin là khi toàn dân Thanh Châu đều đi thỉnh cầu, vị Ngự sử đại nhân đó vẫn không nghe! Ngày xưa cháu nhỏ của Vệ Thái phó rất thích ăn hoành thánh tôm của ta, người thích ăn hoành thánh của Hoa Nhị Nương ta sao có thể là người xấu!”
Chủ tiệm mì cũng lật đật đi theo, nhỏ giọng phản bác: “Nói bậy, rõ ràng tiểu công tử thích nhất là mì thịt băm của Liễu Tứ ta…”
Bóng dáng hai người dần khuất xa, tiếng nói cũng dần bị gió thổi tan. TruyenLau
Khương Lê cầm đũa tre, tò mò nhìn Hoắc Giác, hỏi: “Vậy chàng thích ăn hoành thánh tôm hay mì thịt băm?”
Hoắc Giác khẽ mỉm cười, rót cho nàng một chén trà trần bì, đáp: “Người thích ăn hoành thánh tôm là Hạ Giác, người thích ăn mì thịt băm là Thẩm Thính. Ngày xưa khi ta ra ngoài, đều có họ đi cùng, ăn uống phần lớn cũng theo ý họ.” Nguồn copy từ TruyenLau.com
Thẩm Thính thì tất nhiên Khương Lê biết, chính là vị thiếu trại chủ của trại Bạch Thủy ngày trước, Vân Chu và Tố Tùng đều do hắn ta gửi đến. Còn Hạ Giác, tuy Khương Lê chưa từng gặp, nhưng đã nghe Hoắc Giác nhắc qua một lần.
Chính là nhi tử của nhũ mẫu đã chịu c.h.ế.t thay hắn.
Đọc truyện tại TruyenLau.com
Hoắc Giác sở dĩ có tên là Hoắc Giác, chính là lấy tên của Hạ Giác.
Bia mộ của Hạ Giác là do Thẩm Thính nghe theo lệnh của Hoắc Giác, dựng trong lăng mộ họ Vệ sau khi về Thanh Châu.
Sáng nay Khương Lê còn cùng Hoắc Giác đến lăng mộ họ Vệ tế bái,Hoắc Giác đứng trước bia mộ chỉ nói một câu: “Hạ Giác, ta đã sống sót trở về.”
Vị lang quân trẻ tuổi đứng đó, sương sớm làm ướt đôi mi, tuy sắc mặt vẫn giống như bình thường nhưng không hiểu sao khiến Khương Lê nhìn mà cay mắt.
Lúc này đến quán ăn mà Hoắc Giác yêu thích để ăn hoành thánh tôm mà ngày xưa hắn thích, hẳn là đang tưởng nhớ cố nhân.
Nghĩ đến đây, trong lòng Khương Lê như có d.a.o nhỏ chậm rãi cắt qua, vừa chua xót vừa khó chịu.
Ngay cả hoành thánh thơm ngon cũng trở nên nhạt nhẽo, nhưng nàng vẫn nghiêm túc ăn từng chiếc một.
Người đã khuất, nhưng dấu vết họ để lại vẫn chưa hề phai mờ. Nàng muốn cùng Hoắc Giác nhớ về quá khứ của hắn ở Thanh Châu,cũng như những người đã dùng tính mạng để mở ra một con đường sống cho hắn trong những năm tháng đã qua.
Khương Lê cụp mắt xuống, viền mắt hơi nóng lên.
Chỉ qua vài lời của bà chủ quán ban nãy, nàng đã hiểu được trận hỏa hoạn bảy năm trước khủng khiếp thế nào, cũng biết được có bao nhiêu người không chút do dự lao vào đám cháy, dùng thân xác phàm trần để đổi lấy một tương lai cho hậu nhân của họ Vệ.
Thanh Châu như vậy, Vệ gia như vậy, làm sao không khiến nàng đau lòng?
Dường như cảm nhận được tâm trạng u buồn của Khương Lê, những ngón tay thon dài của Hoắc Giác từ từ đan lấy mười ngón tay nàng, nói: “A Lê, đã ăn xong chưa? Chử thế thúc vẫn muốn gặp nàng, ta đưa nàng đi gặp thúc ấy nhé?”
Khương Lê vội kìm nén nước mắt, cười đáp “Được”.
***
Chử Ngộ đã hai ngày hai đêm không chợp mắt, nhưng tinh thần vẫn rất tốt.
Ông ấy được Hoắc Diễm đích thân nâng đỡ, thuật bày binh bố trận cũng là do Hoắc Diễm trực tiếp truyền dạy. Bảy năm trước, ông ấy tận mắt chứng kiến Hoắc Diễm bị tên b.ắ.n trên chiến trường như thế nào, rồi làm sao mang thân thể trọng thương gắng gượng để sắp xếp cho Hoắc Giác rời khỏi Thanh Châu.
Lúc đó, câu nói cuối cùng Hoắc Diễm nói với ông ấy chính là giữ vững quân Thanh Châu.
“Chử Ngộ, rời khỏi phủ Tướng quân, đừng quay đầu lại, đừng cứu ta! Hãy giữ vững quân Thanh Châu, giữ vững Thanh Châu! Đây là quân lệnh!”
Chử Ngộ đã trải qua bao năm sống c.h.ế.t trên sa trường, chưa từng có lúc nào căm ghét bản thân như vậy.
Nhưng ông ấy biết, quân Thanh Châu là do tướng quân một tay bồi dưỡng ra, là tâm huyết, cũng là hoài bão của tướng quân. Ông ấy phải giữ vững quân Thanh Châu mới không để tên tiểu nhân Tần Vưu được như ý.
Chử Ngộ đã giữ mình suốt bảy năm, giờ đây cuối cùng cũng báo được thù mũi tên đ.â.m sau lưng cho tướng quân.
Nhưng chưa đủ, còn xa mới đủ.
Kẻ ngồi nơi cao xa ở triều đình kia, cũng không thể tha.
Khi Khương Lê và Hoắc Giác đến phủ Tướng quân, Chử Ngộ vừa viết xong mấy bức mật thư. Tuy ông ấy ở Thanh Châu, nhưng trong Thịnh Kinh cũng có vài người bạn tâm giao, có lẽ có thể giúp đỡ được Hoắc Giác.
“Khi nào cháu về Thịnh Kinh thì thay ta gửi những bức thư này đến phủ của mấy người này, có lẽ sẽ có ích cho cháu.”
Chử Ngộ nói xong thì nhìn sang Khương Lê, cười hiền từ nói: “Cháu chính là A Lê nhỉ? Chiêu Minh nói lúc trước chính là cháu và Tô đại phu đã cứu nó ở phố lớn Chu Phúc, thế thúc tại đây xin cảm tạ cháu!”
Nói rồi định chắp tay hành lễ.
Khương Lê sao có thể nhận đại lễ của bậc trưởng bối, vội nghiêng người tránh, nói: “Chử thế thúc không cần khách sáo, ta cũng chẳng làm gì nhiều, đều là công của Tô lão gia.”
Nàng cũng chỉ chăm sóc một chút khi Hoắc Giác hôn mê mà thôi, đâu có ân cứu mạng gì?
Thấy tiểu cô nương tỏ vẻ bất an, ánh mắt Chử Ngộ càng thêm từ ái, lấy ra một con d.a.o găm lớn bằng bàn tay, đưa cho Khương Lê, nói: “Tốt tốt
tốt, ta không khách sáo với A Lê nữa. Vậy A Lê cũng đừng khách sáo với thế thúc, đây là món quà gặp mặt thế thúc thay ông ngoại của Chiêu Minh tặng cho cháu, cháu xem có thích không?”
Đó là một con d.a.o găm tinh xảo, hình trăng khuyết, nạm mấy viên hồng ngọc kích cỡ to nhỏ khác nhau, ở chỗ chuôi d.a.o còn có một lỗ nhỏ, xỏ dây lụa vào là có thể đeo ở thắt lưng.
Người ta vẫn nói không thể từ chối lễ vật của trưởng bối, huống chi còn là nhân danh Hoắc lão tướng quân tặng.
Khương Lê do dự một lúc, cuối cùng vẫn đưa tay nhận lấy con d.a.o găm, cười nói: “Đa tạ Chử thế thúc, A Lê rất thích.”
Chử Ngộ không có con cái, cũng không biết nữ nhi thích cái gì, thấy vẻ mặt Khương Lê không giả vờ, là thực sự thích, trong lòng tự nhiên cũng vui vẻ.
Ông ấy giữ hai người ngồi nói chuyện cả buổi chiều ở phòng khách, lại ăn cơm tối ở phủ Tướng quân, mới luyến tiếc nói với Hoắc Giác: “Cháu yên tâm về Thịnh Kinh, chỉ cần ta còn sống, sẽ không để Thanh Châu gặp loạn. Lần này Nam Thiệu mất một Đại tướng và mấy nghìn binh mã, chắc chắn sẽ không từ bỏ ý đồ, thế thúc phải ở lại Thanh Châu canh giữ, nên không thể đích thân tiễn cháu về Thịnh Kinh được.”
[Truyện được đăng tải duy nhất tại MonkeyD.net.vn -
Chử Ngộ nói đến đây, dừng lại, nhìn sâu vào mắt Hoắc Giác, mới tiếp tục: “Chiêu Minh à, thế thúc ở Thanh Châu đợi cháu và A Xuân về.”
Hoắc Giác hiểu Chử Ngộ nói “về” này, là trở về với tư cách con cháu Vệ gia.
Nhìn khuôn mặt Chử Ngộ rõ ràng đã già hơn bảy năm trước nhiều, hắn gật đầu đáp: “Ngày sau Cẩn và a tỷ chắc chắn sẽ về thăm thế thúc, mong thế thúc bảo trọng.”
Ra khỏi phủ Tướng quân, trời đã tối.
Khương Lê liếc nhìn vò rượu nhỏ bằng hai bàn tay trong tay Hoắc Giác, cười tủm tỉm nói: “Chứ thế thúc có rượu ngon, chúng ta không cần phải đi tìm quán rượu bên ngoài nữa. Chi bằng tìm một chỗ uống rượu, ta còn chưa được nếm rượu Thanh Châu đâu.”
Ban nãy Chử Ngộ biết nhà nàng mở quán rượu, lập tức đào từ dưới gốc cây ra một vò rượu nhỏ tặng nàng, nói là rượu ngon ủ lâu năm của Thanh Châu.
Khương Lê nhận rượu này không hề do dự, rượu ủ lâu năm này không chỉ lắng đọng năm tháng trôi qua, mà còn có linh khí sơn thủy của một vùng đất, vô cùng quý giá.
Của ngon như vậy, hiếm khi Chử Ngộ sẵn lòng bỏ ra!
Nghe ra vẻ háo hức trong lời tiểu cô nương, Hoắc Giác mỉm cười, nói: “Được, ta đưa nàng đến một nơi thích hợp để uống rượu.”
***
Mãi nửa canh giờ sau, Khương Lê mới biết nơi thích hợp để uống rượu mà Hoắc Giác nói là tổ trạch cũ của Vệ gia.
Cũng chính là nơi nhi tử vị Thủ phụ kia từng ở.
Khương Lê nghe Hoắc Giác kể sơ qua về sự việc xảy ra tại phủ Tả Tham nghị đêm qua, tất nhiên cũng biết Lăng Nhược Phàm đã phạm phải lỗi gì, trong lòng nàng không hề có chút đồng cảm nào với người đó.
Trên đời này rõ ràng có biết bao nhiêu con đường để đi, sao lại cứ phải chọn con đường lệch lạc hại người hại mình?
Khương Lê nhìn quanh một vòng.
Nơi này trước đây vẫn có binh lính canh gác nghiêm ngặt, không biết có phải vì những thứ cần tìm đều đã bị lục soát đi hết nên đêm nay không còn một ai canh gác cổng chính nữa không.
Hoắc Giác dẫn nàng vào phủ từ cửa hông, đi đến một khu viện ở góc Tây Nam.
“Đây là nơi ta từng ở trước kia, gọi là Văn Lan viện. Trong sân Văn Lan viện có trồng cây ngô đồng. Đến mùa xuân, chim khách thường đến đậu, kêu mãi không thôi trên cành cây.”
Phủ đệ mà Lăng Nhược Phàm xây dựng lại trên mảnh đất phong thủy tốt này, dù là cách bố trí hay phong cảnh, đều không khác gì so với tổ trạch Vệ gia ngày xưa.
Ngay cả tên Văn Lan viện cũng không đổi, chỉ là cây ngô đồng trong sân được thay bằng cây hợp hoan.
Hoắc Giác chỉ vào một cây hợp hoan cao hơn cả một tòa nhà, nói: “Chúng ta lên cây uống rượu đi.”
Không khí mùa thu đã nhuộm vàng cả những cây hợp hoan trong sân, từng lớp lá vàng trên cành lay động như sắp rụng, làm ánh trăng lạnh lẽo rọi xuống hóa thành từng đốm sáng trên mặt đất.
Hoắc Giác ôm Khương Lê, khẽ vận khí một cái đã ung dung bay lên trên cây, ngồi trên một cành cây to khỏe nhất ở trên cao.
Khi còn nhỏ, Khương Lê thường leo trèo trên những cây ăn quả ở núi Thanh Đồng.
Lúc này lên cây, tất nhiên nàng không sợ, hứng thú mở nút vải đỏ trên bình rượu ra, đặt miệng vào uống một ngụm.
Rượu hơi mát, hương vị đậm đà, quả thật là rượu ngon.
“Rượu này ngon lắm.” Khương Lê nâng hai tai bình rượu, đưa đến bên môi Hoắc Giác và nói: “Chàng nếm thử xem.”
Hoắc Giác một tay đỡ eo nàng, tay kia nâng cổ tay nàng, cúi đầu uống một ngụm lớn, dòng rượu trong suốt chảy từ khóe môi hắn.
Khương Lê nhìn đường nét gương mặt thanh tú của hắn được ánh trăng phác họa càng thêm nổi bật, thoáng chốc như bị mê hoặc.
Người ta vẫn nói rượu không làm người say, người tự say.
Nhân lúc Hoắc Giác cúi đầu, nàng áp đôi môi ấm áp lên khóe miệng hắn, đầu lưỡi khẽ l.i.ế.m nhẹ.
Thân thể Hoắc Giác hơi khựng lại, ánh mắt dần trở nên sâu thẳm, nghiêng đầu đỡ lấy gáy nàng, in môi lên môi nàng.
Khương Lê nhắm mắt lại, mũi và miệng chỉ còn hương rượu nhẹ nhàng, cùng với mùi hương xạ và trúc quen thuộc trên người hắn.
Gió đêm khẽ thổi, vài chiếc lá vàng bay qua bên người nàng, chạm vào đôi giày thêu hoa hợp hoan, rồi rơi xuống đất không một tiếng động.
Nàng cảm nhận được hắn từng bước ép sát, cùng với nụ hôn điên cuồng như đang công thành đoạt đất.
Tim Khương Lê đập thình thịch, lòng bàn tay buông lỏng, bình rượu nhỏ trong tay trượt xuống.
Nàng kêu lên một tiếng, đột ngột mở mắt, khóe mắt nhanh chóng liếc thấy lang quân của mình không nhanh không chậm dùng mũi chân giữ vững bình rượu, khẽ nâng lên, bình rượu đã rơi vào lòng bàn tay hắn.
Vài giọt rượu b.ắ.n ra từ bình rượu cuốn theo gió, rơi vào hai bóng người đổ dài trên mặt đất.
Ánh trăng kéo dài bóng hai người.
Chỉ thấy trong bóng lay động, lang quân khẽ cọ mũi vào mũi tiểu nương tử, cười khàn giọng nói: “A Lê không chuyên tâm…”
Đêm cuối cùng của Khương Lê ở Thanh Châu tiêu hao trong một bình rượu và những nụ hôn nồng nhiệt của Hoắc Giác.
Đến nỗi về sau, nàng ngồi trên cành cây, thậm chí có cảm giác như đang bay bổng trên mây.
Khi trở về Thanh Vân quán, vẫn không quên hào khí ngất trời mà nói với Hoắc Giác: “Chàng yên tâm, rồi có một ngày, ta sẽ chuộc lại tổ trạch họ Vệ cho Vệ tiểu tướng quân của chúng ta!”
Hoắc Giác vừa đáp lại lời hứa của chú sâu rượu nhỏ này, vừa lấy khăn ướt lau mặt rửa người cho nàng. Đợi đến khi tiểu nương tử mơ màng ngủ thiếp đi, mới cẩn thận đắp chăn cho nàng rồi bước ra khỏi khách xá.
Đêm trong núi vẫn luôn tĩnh mịch như thường lệ.
Ân đạo trưởng ngồi dưới một cây cổ thụ, thấy hắn đến thì vội vàng gật đầu nói: “Tiểu tử, lại đây uống trà.”
Bàn đặt dưới gốc cây là một khúc gỗ cổ thụ to đến ba người ôm, những vòng năm tháng chất chứa biết bao mưa gió của núi rừng này.
Hoắc Giác cúi mắt nhìn ba chữ “Ân Tố Thập” khắc ở góc bàn, dịu giọng nói: “Đa tạ đạo trưởng đã chăm sóc cho tiện nội trong những ngày qua.”
Ân đạo trưởng cười nói: “Tính tình A Lê thuần khiết thẳng thắn, có cô bé ở đây, núi non này cũng náo nhiệt hẳn lên.”
Tiểu nương tử chỉ mới ở đạo quán vài ngày mà đã làm được không ít nước lê thu, mơ ngâm đường, bánh rau dại, nước mật trái cây, biến
những ngày tháng vốn tĩnh lặng khô khan trở nên sinh động, nụ cười trên khóe mắt còn rực rỡ hơn cả ánh nắng thu bên ngoài.
Trọng Sinh Về Năm 16 Tuổi Chỉ Muốn Ôm Đùi Tiểu Mỹ Nhân
Cài đặt
Kích thước chữ
Kiểu chữ
Chiều cao dòng
Xem trước
Đây là bản xem trước trải nghiệm đọc của bạn. Điều chỉnh các cài đặt ở trên.